Xin chào Quý khách. Hệ thống không nhận diện được thuê bao. Vui lòng truy cập bằng 3G của MobiFone hoặc Đăng nhập tại đây

Những điều cần biết về bệnh bại liệt

173
Bệnh bại liệt (Poliomyelitis) là một bệnh nhiễm vi rút cấp tính lây truyền theo đường tiêu hóa, có thể lan truyền thành dịch, nặng có thể dẫn đến tử vong. Biện pháp phòng bệnh chủ động hiệu quả nhất là tiêm vắc xin.

 

Nguyên nhân:

Bệnh bại liệt (Poliomyelitis) là một bệnh nhiễm vi rút cấp tính lây truyền theo đường tiêu hóa do vi rút Polio gây lên, có thể lan truyền thành dịch. 

Khả năng tồn tại của vi rút bại liệt ở môi trường bên ngoài:

Vi rút bại liệt sống dai ở môi trường bên ngoài, trong phân, chúng sống được vài ba tháng ở nhiệt độ 0-4°C. Trong nước, ở nhiệt độ thường, chúng sống được 2 tuần.

Vi rút bại liệt chịu đựng khô hanh, bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56°C sau 30 phút và bị tiêu diệt bởi thuốc tím (KMnO4).

 

Nguồn truyền nhiễm & Phương thức lây truyền:

Người là nguồn chứa duy nhất, đặc biệt là ở những người nhiễm vi rút bại liệt thể ẩn, nhất là trẻ em.

Nguồn truyền bệnh là bệnh nhân ở các thể lâm sàng và người lành mang vi rút. Họ đào thải rất nhiều vi rút bại liệt theo phân làm ô nhiễm nguồn nước và thực phẩm. Vi rút lây truyền sang người chủ yếu qua đường phân – miệng. Vi rút bại liệt chủ yếu từ phân ô nhiễm vào nguồn nước, thực phẩm rồi vào người qua đường ruột. Cũng có khi lây truyền qua đường hầu, họng. Không bao giờ lây nhiễm qua côn trùng trung gian.

 

Dấu hiệu nhận biết & các thể của bệnh bại liệt:

 

Triệu chứng thể nhẹ của bệnh bại liệt

 

Bệnh được nhận biết qua biểu hiện của hội chứng liệt mềm cấp (Acute Flaccid Paralysis: AFP). Vi rút Polio sau khi vào cơ thể sẽ đến hạch bạch huyết, tại đây một số ít vi rút Polio xâm nhập vào hệ thống thần kinh trung ương gây tổn thương ở các tế bào sừng trước tủy sống và tế bào thần kinh vận động của vỏ não

Thời kỳ ủ bệnh: Từ 7-14 ngày, đối với các trường hợp có dấu hiệu liệt thực thể. Tuy nhiên thời kỳ ủ bệnh có thể dao động từ 3-35 ngày.

Thời kỳ lây truyền: Chưa xác định, nhưng có thể kéo dài trong thời gian vi rút còn tồn tại trong cơ thể và đào thải ra ngoài. Sau khi xâm nhập vi rút có trong dịch tiết hầu họng sau 36 giờ, trong phân sau 72 giờ; ở trong phân vi rút  thường tồn tại từ 3-6 tuần hay lâu hơn. Lây truyền có thể từ 7-10 ngày trước khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng.

Thể liệt mềm cấp điển hình: Chiếm 1% với các triệu chứng sốt, chán ăn, nhức đầu, buồn nôn, đau cơ các chi, gáy và lưng, dần dần mất vận động dẫn đến liệt không đối xứng. Mức độ liệt tối đa là liệt tủy sống, liệt hành tủy dẫn đến suy hô hấp và tử vong. Liệt ở chi, không hồi phục làm bệnh nhân khó vận động hoặc mất vận động.

Thể viêm màng não vô khuẩn: Sốt, nhức đầu, đau cơ, cứng gáy.

Thể nhẹ: Sốt, khó ngủ, nhức đầu, buồn nôn, nôn, táo bón, có thể hồi phục trong vài ngày.

Thể ẩn, không rõ triệu chứng là thể thường gặp, song thể nhẹ có thể chuyển biến sang nặng.

 

Cách phòng chống bệnh bại liệt

 

 

Bệnh bại liệt có thể chủ động phòng ngừa bằng cách sử dụng vắc xin phòng bệnh. Có hai loại vắc xin là vắc xin sống giảm độc lực gọi là Sabin và vắc xin tiêm gọi là Salk.

  1. Vắc xin Sabin uống có tên chung là vắc xin bại liệt uống OPV (oral polyomyelitis vắc xin) với tên thương mại là Polio Sabin (type 1, 2, 3) + Neomycin sulfate 5µg/liều, có thời gian bảo vệ hơn 10 năm. Sử dụng vắc xin Sabin uống phòng bệnh bại liệt theo quy định lịch của chương trình tiêm chủng mở rộng. Thường dùng 3 lần theo lịch cùng với vắc xin bạch hầu, ho gà, uốn ván vào lúc trẻ được 2 tháng tuổi,  3 tháng tuổi và 4 tháng tuổi.

    Vắc xin Sabin được tạo ra từ các chủng vi rút bại liệt hoang dại, là loại vắc xin được sử dụng rất thuận lợi theo đường uống. Vắc xin vào cơ thể đồng thời tạo được đáp ứng miễn dịch đường ruột (IgA) và đáp ứng miễn dịch dịch thể (IgG). Vì vậy, OPV không những ngăn được vi rút bại liệt hoang dại nhân lên ở đường tiêu hoá mà còn chống được vi rút gây bệnh lan lên hệ thống thần kinh trung ương. OPV trong khi tạo ra miễn dịch cá thể, còn tạo được miễn dịch cộng đồng khi nó đào thải ra ngoài đường tiêu hoá. Bên cạnh nhiều ưu điểm, vắc xin Sabin vì được tạo ra từ chủng vi rút hoang dại, nên sau quá trình sử dụng rộng rãi lâu dài vi rút vắc xin Sabin có xu hướng trở lại gây độc với tế bào thần kinh, gây nên bại liệt do vắc xin, song với tỷ lệ cực thấp là một trường hợp trong hàng triệu liều vắc xin được sử dụng.

  2. Vắc xin bại liệt dạng tiêm có tên chung là vắc xin bại liệt bất hoạt IPV (Inactivated polyomyelitis vaccine) với tên thương mại là IPOL (type 1, 2, 3), có thời gian bảo vệ nhiều năm. Vắc xin cũng được sử dụng theo lịch quy định của chương trình tiêm chủng mở rộng, có nghĩa là dùng 3 lần theo lịch cùng với vắc xin bạch hầu, ho gà, uốn ván vào lúc trẻ được 2 tháng tuổi,  3 tháng tuổi và 4 tháng tuổi. Nên nhớ rằng chỉ dùng vắc xin bại liệt tiêm cho các đối tượng trẻ không uống được vắc xin Sabin.

    Hạn chế của vắc xin IPV là chỉ ngăn được vi rút gây bệnh xâm nhập qua đường hầu, họng mà không ngăn được vi rút hoang dại xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa. Hơn nữa, vắc xin IPV chỉ tạo miễn dịch cá thể, tức là dù được tiêm vắc xin nhưng cơ thể vẫn có thể mang vi rút, thành nguồn lây truyền ngẫu nhiên cưỡng bức. Vì vậy phương pháp này khó có thể sử dụng cho công cuộc thanh toán bại liệt ở những nước đang phát triển, mặt khác nữa là vắc xin áp dụng theo đường tiêm và giá thành đắt nên cũng gặp những trở ngại nhất định. Tuy vậy là một vắc xin bất hoạt nên có tính an toàn cao. Ở giai đoạn sau khi đã thanh toán được bệnh bại liệt, để duy trì thành quả này, IPV được khuyến cáo nên sử dụng.

Tác dụng phụ đối với vắc xin bại liệt được ghi nhận khoảng dưới 1% số trường hợp sau khi sử dụng; có thể thấy xuất hiện dấu hiệu nhức đầu, tiêu chảy hoặc đau cơ. Thực tế đã cho thấy đã có những trường hợp bị liệt mềm cấp tính sau khi uống vắc xin Sabin; tỷ lệ nguy cơ này chỉ chiếm khoảng 1/5 triệu liều vắc xin uống. Những phản ứng phụ và tai tiến sau khi dùng vắc xin cần phải được các đơn vị y tế dự phòng ghi nhận, thông báo ngay cho văn phòng tiêm chủng mở rộng quốc gia và Cục Y tế dự phòng Bộ Y tế biết để theo dõi, chỉ đạo.

Chống chỉ định sử sụng vắc xin bại liệt uống Sabin cho các trường hợp trẻ đang bị sốt, đang bị nôn hoặc tiêu chảy; đang được điều trị bằng các thuốc corticoides, các thuốc gây suy giảm miễn dịch hoặc tia xạ. Đồng thời cũng chống chỉ định dùng cho đối tượng mắc các bệnh ác tính như u lympho, bạch cầu cấp, Hodgkin, giảm gammaglobulin máu; phụ nữ có thai trong 4 tháng đầu. Không nên uống vắc xin Sabin cùng thời điểm với vắc xin thương hàn uống. Đối với những trường hợp có nguy cơ bị phơi nhiễm nhưng không dùng được vắc xin Sabin uống như trẻ bị nhiễm HIV thì có thể thay bằng vắc xin bại liệt bất hoạt IPV tiêm.

Tỷ lệ mắc bại liệt cao nhất ở trẻ dưới 3 tuổi, tỷ lệ này càng thấp ở những tuổi càng lớn hơn. Tuy nhiên, trong những vụ dịch gần đây, tỷ lệ mắc bệnh ở lứa tuổi trên 15 tuổi tăng lên rõ rệt. Lý do khiến bại liệt hay thấy ở trẻ dưới 3 tuổi là do sự lưu hành rộng rãi của vi rút Polio. Một số lớn trẻ đang bú mẹ hãy còn miễn dịch do mẹ truyền sang nên nếu có nhiễm vi rút thì cũng không có biểu hiện lâm sàng rõ rệt và ít để lại di chứng.

Khả năng đáp ứng miễn dịch týp sau phơi nhiễm sẽ tồn tại suốt đời, kể cả mắc bệnh thể ẩn. Vì vậy sẽ không bị bệnh lần 2 với cùng một týp vi rút.

Trẻ nhỏ được thừa hưởng đáp ứng miễn dịch của mẹ truyền qua. Vắc xin bại liệt được sử dụng đúng qui cách và áp dụng rộng rãi ở cộng đồng sẽ để lại miễn dịch lâu bền, góp phần quan trọng trong công tác thanh toán bệnh này.

 

Những việc cần làm khi xảy ra dịch bệnh bại liệt:

Khi xảy ra dịch, các bệnh nhân đã được chẩn đoán lâm sàng xác định hoặc nghi ngờ mắc bệnh bại liệt được chuyển đến bệnh viện được chỉ định (khoa lây với phòng cách ly) để điều trị và theo dõi.

Xử lý môi trường: Xử lý địa bàn xảy ra dịch, bệnh viện nơi thu dung điều trị bệnh nhân. Áp dụng các thuốc khử trùng, tẩy uế chloramin B, formalin, các chất oxy hoá, vôi bột. Đặc biệt phải tiệt trùng quần áo, chăn màn, đồ dùng và vật dụng sinh hoạt bằng hấp khử trùng nhiệt độ cao có áp lực.

 

Nguồn: Báo Dân Trí / Cục Y Tế Dự Phòng

Tin liên quan