Xin chào Quý khách. Hệ thống không nhận diện được thuê bao. Vui lòng truy cập bằng 3G của MobiFone hoặc Đăng nhập tại đây

Những điều cần biết về bệnh thương hàn

351
Bệnh thương hàn là một bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa, có thể gây thành dịch, do vi khuẩn thương hàn và phó thương hàn gây ra.

 

Nguyên nhân, phương thức lây truyền của bệnh thương hàn:

Thương hàn là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây bằng đường tiêu hóa, do trực khuẩn có tên khoa học là Salmonella typhi và Salmonella paratyphi gây nên.

Trực khuẩn thương hàn có thể sống hàng tháng ngoài môi trường, chúng xâm nhập vào cơ thể qua đường miệng và hầu hết là do ăn phải thức ăn, sữa, nước uống....  Sau khi xuyên qua hàng rào acid dạ dày, vi khuẩn di động về phía ruột non và sinh sản ở đó, tiếp tục chui qua màng nhày vào thành ruột và đi vào máu. Vi khuẩn sẽ được chuyên chở bởi những tế bào bạch cầu ở gan, lách và tủy xương. Khi đó vi khuẩn sẽ sinh sôi nảy nở trong tế bào của những cơ quan này và quay lại dòng máu. Vi khuẩn xâm nhập vào túi mật, hệ thống ống mật và mô lympho trong ruột. Tại đây, chúng sinh sôi nảy nở với số lượng lớn.

 

 

Bệnh thương hàn thường xảy ra ở những nơi có điều kiện sinh hoạt kém vệ sinh, do lây truyền qua đường ăn uống bởi nước hay thức ăn bị nhiễm. Bệnh nhân bị bệnh cấp tính có thể lây ra môi trường nước xung quanh qua phân, ở giai đoạn cấp các chất thải (phân) có chứa nồng độ vi khuẩn rất cao.

 

Dấu hiệu nhận biết & các trường hợp biến chứng của bệnh thương hàn:

 

 

Bệnh nhân bị bệnh thương hàn có dấu hiệu đặc biệt là sốt liên tục, sốt cao đến 40oC, vã nhiều mồ hôi, viêm dạ dày ruột và tiêu chảy. Có thể kèm theo ban dát, chấm màu đỏ hồng trên da. 

Một ca bệnh điển hình, chưa được phát hiện và điều trị, diễn biến qua 4 giai đoạn, mỗi giai đoạn kéo dài khoảng 1 tuần, như sau:

Tuần đầu tiên, bệnh nhân sốt tăng từ từ, tương ứng với nhịp tim, có kèm theo nhức đầu và ho; chảy máu mũi (chảy máu cam) ở 25% các trường hợp và đau bụng. Nuôi cấy máu tìm thấy vi khuẩn Salmonella typhi hay Paratyphi.

Tuần thứ 2, bệnh nhân nằm liệt giường, sốt cao ở mức 40oC, nhưng nhịp tim chậm, gọi là tình trạng mạch nhiệt phân ly. Bệnh nhân luôn bị mê sảng, li bì, nhưng thỉnh thoảng lại bị kích thích. Vì mê sảng nên người ta gọi là “sốt thần kinh”. Khoảng 33% bệnh nhân trên da vùng thấp của ngực và bụng xuất hiện chấm ban hồng. Nghe phổi thấy ran ngáy ở đáy phổi. Bụng bệnh nhân trướng căng và đau ở vùng dưới phải, kèm theo tiếng sôi bụng. Bệnh nhân đi tiêu từ 6 - 8 lần/ngày, phân màu xanh lục, mùi đặc trưng. Tuy nhiên, có nhiều bệnh nhân thương hàn lại bị táo bón. Gan và lách to, xét nghiệm thấy men gan transaminases tăng.

Tuần thứ 3, thường xảy ra một số biến chứng như: xuất huyết tiêu hóa, có khi rất trầm trọng; thủng ruột non: là biến chứng rất nặng có thể gây tử vong do nhiễm khuẩn huyết và viêm phúc mạc lan tỏa; viêm não; gây mủ ở cơ quan khác, viêm túi mật, viêm nội tâm mạc, viêm xương. Thân nhiệt của bệnh nhân tiếp tục tăng và rất ít dao động suốt hơn 24 giờ. Tình trạng mất nước xảy ra sau đó và bệnh nhân mê sảng. Đến cuối tuần thứ 3, bệnh nhân bắt đầu giảm sốt.

Tuần thứ 4, nếu không bị biến chứng, bệnh nhân sẽ khá dần lên sau một giai đoạn từ 7 - 10 ngày.

Trên thực tế, cũng hay gặp bệnh nhân mắc thương hàn với các biểu hiện: sốt tăng dần, rối loạn tiêu hóa, bụng trướng, có dấu hiệu sôi bụng ùng ục ở hố chậu phải; bị phát ban dạng sởi ở vùng quanh thắt lưng. Bệnh nhân còn bị loét họng, loét ruột gây chảy máu ruột do độc tố thương hàn gây ra. Độc tố vi khuẩn cũng gây nhiễm độc cơ tim, gây viêm cơ tim, trụy tim mạch. Nếu độc tố nhiễm vào não thất gây triệu chứng mạch nhiệt phân ly, viêm não rất đặc thù của bệnh thương hàn.

Các trường hợp mắc thương hàn nhẹ, có triệu chứng giống như viêm dạ dày, viêm ruột gây nên tiêu chảy.

 

Ðiều trị bệnh thương hàn:

 

 

Điều trị chủ yếu là diệt vi khuẩn thương hàn bằng các loại thuốc kháng sinh như ampicillin, chloramphenicol, trimethoprim-sulfamethoxazole, amoxicillin, ciprofloxacin. Thời gian dùng kháng sinh cho bệnh nhân thương hàn trung bình là 14 ngày. Nếu không điều trị, bệnh nhân sẽ tử vong từ 10 - 30%. Đối với người già và người ốm lâu ngày thường có tiên lượng xấu. Trái lại, ở trẻ em, bệnh thường nhẹ hơn.

Chủ yếu là dùng vaccin phòng bệnh thương hàn cho các đối tượng là người có tiếp xúc với bệnh nhân trong cùng gia đình, các hộ sống cùng địa bàn nơi ổ bệnh xuất phát, người đến vùng có dịch tễ và khi có dịch xảy ra. Hiện nay, có 2 loại vaccin uống nhiều lần và vaccin tiêm một lần, tác dụng như nhau, nhưng dạng uống ít tác dụng phụ hơn, tiện dùng hơn.

Vaccin tiêm có thời gian bảo vệ ít nhất là 3 năm, dùng để phòng bệnh cho người lớn và trẻ em trên 5 tuổi.

Vaccin uống cũng có thời gian bảo vệ ít nhất là 3 năm, dùng để phòng bệnh thương hàn và phó thương hàn. Loại vaccin này không dùng cho các đối tượng: bị suy giảm miễn dịch; đang điều trị thuốc ức chế miễn dịch và kháng sinh; đang bị sốt cấp tính, nhiễm khuẩn đường ruột cấp tính; trẻ em dưới 3 tháng tuổi; phụ nữ có thai.

 

Chú ý:

- Việc dự phòng bệnh thương hàn cũng rất quan trọng. Đầu tiên, bạn cần cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường nơi bạn sinh sống, kiểm soát nước, chất thải, cống rãnh, khử trùng nguồn nước; cách ly và xử lý chất thải của bệnh nhân, kiểm soát chặt chẽ và điều trị người lành mang trùng.

- Trong vùng có nhiều người mắc bệnh hoặc vùng bị lũ lụt, ô nhiễm môi trường nặng cần được sát khuẩn bằng dung dịch Cloramin B, vôi bột. Ở những nơi bệnh thương hàn thường xuyên xảy ra nên tiêm phòng bằng vaccin, tùy từng hiệu lực của từng loại vaccin có thể tiêm nhắc lại sau 2-5 năm.

- Thực hiện ăn chín uống sôi. Rửa tay sạch trước khi ăn uống, sau khi lao động, tiếp xúc với đồ vật. Cần xử lý tốt các chất thải của bệnh nhân. Dùng lồng bàn đậy thức ăn khỏi bị ruồi, nhặng làm nhiễm bẩn. Những người lành mang vi khuẩn không được phép làm việc ở các cơ sở dịch vụ ăn uống. Tích cực diệt ruồi, nhặng, gián...

 

Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời Sống / Đời Sống & Pháp Luật

Tin liên quan